09 February, 2009

Cổ sử đọc vài quyển.

1.

Tối nay, blog Đông A cho đăng một bài viết về ngôn ngữ “Ghi chép về chữ mạt“. Như thường lệ, những bài viết của Đông A luôn dành cho giới elité. Lê Đại Phu không phải thuộc giới này, nhưng hồi nhỏ có đọc qua dăm cuốn sử, thành ra hắn nhận ra mùi bàn tán chuyện lịch sử ở đây.

Việc theo dõi entry này trong blog Đông A cho tôi một số dự đoán và “ngắm nghía” các trường phái cổ sử Việt Nam rõ nét hơn.

2.

Có lẽ (tôi dùng chữ “có lẽ” là vì với kiến thức hạn hẹp của mình và với sự “phụ bạc” của mình với môn Sử) không món ăn chơi nào làm mê mẩn các sử gia cho bằng nghiên cứu cổ sử Việt Nam. Bởi, nếu các thời đại sau này đều trùng trùng tư liệu, thì rõ ràng là chẳng có gì hay ho thú vị (hehe):

+ Sử quan hay bị kê dao vô cổ mà viết.

+ Rõ ràng quá, nhưng bị cấm nói nhiều quá.

Cổ sử Việt Nam nghiên cứu cái gì? Nó tập trung viết lại thưở khai quốc (Văn Lang) và lý giải những truyền thuyết dưới góc nhìn của các sử gia (Trăm trứng nở trăm con, Nỏ thần, Thánh Gióng…).

Hiện tại, có 2 trường phái cổ sử đối nghịch nhau: một là những người theo Linh mục, Triết gia, Sử gia, etc gia Kim Định (nay đã quá cố). Hai là những người theo chân sử gia số một của cộng đồng Hải ngoại Tạ Chí Đại Trường (nay vẫn còn sống khỏe, viết khỏe).

3.

Học thuyết dân Việt Nam là tổ tiên người Tàu của ông Kim Định thì khá là mù mờ, dài dòng (mấy trăm trang sách lận). Những học giả theo ông (hay làm nền cho ông) ủng hộ thuyết này thường có xu hướng dân tộc “quá khích”. Đảng này Đảng nọ ở VNCH rất khoái “huyền sử gia” Kim Định.

Đại khái ông cho rằng: sau khi từ Phi Châu xa xôi đi bộ tới Đồng bằng sông Hồng, người Việt cổ lên “khai hoang” đất Trung Hoa. Tại đây, họ gặp người Mông Cổ. Chàng trai Mông Cổ yêu cô nàng Việt gánh lúa, lấy nhau đẻ ra người Hán. Những thể loại nổi danh của các chú Trung Hoa thì ra đều là sản phẩm của nước Việt Nam ta ráo trọi. Kim Định đòi tác quyền cho các thứ sau: Kinh Dịch, Đạo Nho, Hà đồ…

Chuyện đó xảy ra từ trước năm 2600 TCN.

Tuy vậy, Kim Định không đưa ra một phương pháp nghiên cứu khả dĩ thuyết phục được các sử gia Tây học bấy giờ. Các thức ông sử dụng được tóm tắt thành 1 câu như vầy: “huyền sử khác với lịch sử ở chỗ có dùng huyền thoại nhưng lại đáng tên sử vì được giải thích dưới ánh sáng của định chế, phong tục, cổ tục… nghĩa là những yếu tố có tính chất lịch sử.”

Người chống đối và có công trình phản biện “huyền sử’ Kim Định triệt để nhất là sử gia Tạ Chí Đại Trường.

Tạ Chí Đại Trường là một sử gia thông thái, hài hước và rất được giới sử học kính trọng.

Thuyết của ông Tạ tiêu biểu cho ý kiến về nguồn gốc người Việt đang được công nhận rộng rãi hiện nay.

Thuyết này cho là: bạn cứ lấy con sông Trường Giang mà nhớ. Phía trên là nhà nước Hoa Hạ. Phía dưới con sông ấy, có một nơi tên gọi là Động Đình Hồ (nay thuộc tỉnh Hà Nam, nước China).

Động Đình Hồ là nơi có một nhà nước tên gọi Văn Lang Động Đình Hồ. Đứng đầu nhà nước Văn Lang, dĩ nhiên, là các vua Hùng yêu quí của chúng ta.

Văn Lang Động Đình Hồ bị nước Sở (Hạng Vũ sau này, hehe) tấn công, các vua Hùng chạy xuống tỉnh Quảng Tây (xin lưu ý sự di dân tiến xuống dần dần này). Nơi đây, tại đồng bằng Tây Giang, cái gọi là Văn Lang Tây Giang thành hình.

Thục vương tử tên Phán ở gần đó (nước Thục, phe Tàu) thôn tính Văn Lang Tây Giang (phe ta). Thục Phán trộn chung 2 sắc dân này, lập nên Tây Âu Lạc. Như vậy, thành Cổ Loa nổi tiếng giang hồ hiện đang nằm ở Quảng Tây nước China (chứ không phải ở huyện Đông Anh, Hà Nội).

Nhưng một ít dân Văn Lang Động Đình Hồ không chịu quy hàng Thục Phán, họ tiếp nối truyền thống bất khuất của cha anh. Đoàn người di dân này đi mải miết thêm 400 km nữa để đến đồng bằng sông Hồng.

Trên đường đi, họ mang theo “đầy đủ” những truyền thuyết về Nỏ thần ở Cổ Loa thành, truyền thống trị vì của Hùng Vương. Họ làm “rơi vãi” kỹ thuật đúc trống đồng (cho nên trống đồng China đẹp hơn trống Việt Nam là vậy). Họ “sáng tạo” ra những câu chuyện mới về cuộc vật lộn với lũ lụt khá hùng tráng (Sơn Tinh – Thủy Tinh).

4.

Tôi không dám đi sâu kể lể những điểm mà 2 trường phái cổ sử này cãi nhau. Chuyện đọc tài liệu không thôi đã làm tôi khá mất thời gian. Hai nhóm sử gia này “chửi” nhau nghe rất vui.

Phái Kim Định nói: quí vị h
ay lấy
vỏ ngao tát bể, lấy cái cân nhỏ xíu để cân đời!.

Phái anti- Kim Định nói: lí thuyết Kim Ðịnh bắt nguồn từ ý tưởng bốc đồng huênh hoang của nhà chính trị trong thời gian mất nước vào tay người Pháp.

Thật vô cùng gay cấn. Khiến cho những kẻ hậu học chỉ biết đứng xa khen thầm. Chuyện mấy ngàn năm mà ai cũng tỏ tường như chuyện bên bờ ao nhà mình vậy.

5.

Tôi quay lại với entry của blog Đông A.

Entry này, như tiêu đề, là một entry về ngôn ngữ học, “bàn về chữ mạt”.

Tuy vậy, bạn có thể lưu ý về cụm từ “tiếng Choang” được nhắc lại nhiều lần trong entry đó. Hẳn ai quan tâm đến lịch sử hiện đại của Trung Quốc, cũng từng nghe đến những khu tự trị nổi tiếng của đất nước này.

Khu tự trị Choang (Quảng Tây) là một trong số đó.

Bạn quay lại mục 3. của tôi, bạn có lưu ý nước Tây Âu Lạc của Thục Phán không? Theo truyền thuyết, Triệu Đà chiếm được Cổ Loa thành, lập nên Tây Vu.

Triệu Đà sau đó xích mích với nhà Hán (Lưu Bang, hehe). Hán Vũ Đế chiếm được nước của Triệu Đà, đổi tên thành Hợp Phố.

Như vậy con dân của nhà nước Văn Lang đều thuộc về Hợp Phố. Nền văn hóa trống đồng thuộc về Hợp Phố.

Hợp Phố sau bao năm thăng trầm, người Hợp Phố thành người Tráng, còn Hợp Phố thì thành ra Khu tự trị Choang Quảng Tây.

Tổ tiên của người Việt ta, phải chăng là người Choang hiện nay vậy.

Người Choang có câu nói nổi tiếng, thà chết chứ không chịu mất tiếng nói. Phải chăng, truyền thống hào hùng đó đã thành gene đi theo những người con của Vua Hùng xuống tận Phú Thọ. Ngàn năm Bắc thuộc không làm đổi tiếng nói của người Việt.

Sử gia Trương Thái Du, người mà bạn thấy trong comment đầu tiên của entry nãy giờ chúng ta đang bàn, viết: “Truyền thống xem trống đồng là bảo vật linh thiêng của Lạc Việt vẫn được người Tráng lưu giữ. Ở nhiều ngữ cảnh, chữ Tráng đồng nghĩa với chữ Hùng trong từ Hùng Vương”.*

6.

Tôi nghĩ về Hiệp định cắm mốc biên giới giữa ta và Tàu gần đây. Blogger Đông A tỏ ra ủng hộ các chứng cứ cho thấy: ải Nam Quan thuộc về Tàu chứ không thuộc Ta.

Xâu chuỗi các sự kiện, kết hợp với entry này. Tôi nghĩ, sắp tới blogger này sẽ cho ra những entry về cổ sử, về hướng di dân thời Hùng Vương. Entry bàn về 1 chữ trong tiếng Choang và tìm sự tương hợp trong ngôn ngữ Việt cổ, chắc chỉ là khúc dạo đầu cho một loạt entry có tính định hướng khác.

Tôi cũng lưu ý đến tên các nhân vật sắp tới (sau Trương sử gia) sẽ comment vào entry này. Tôi có thể phân loại được ai là người theo Kim Định và ai là anti Kim Định. Điều này sẽ rất bổ ích cho việc hệ thống kiến thức lịch sử và sưu tầm tài liệu của tôi.

Mời bạn cùng theo dõi chung với tôi cho vui. Mà biết đâu, những suy luận của tôi, kết cuộc, thì ra chỉ là võ đoán.

~~~

* Trương Thái Du, Cổ sử Việt Nam, một cách tiếp cận vấn đề. Trang 9.

Lê Đại Phu,

ngày được viết blog theo quy định.

0 comments:

Post a Comment