
Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần tiểu sử của J. Haydn và tự hỏi, tại sao những sáng tác cho Tứ tấu đàn dây của ông này lại nhiều như vậy? Dù người ta nói, Haydn là người “sinh ra thể loại Giao hưởng”, nhưng tôi vẫn thích những bản soạn cho Tứ tấu đàn dây của ông hơn, kỹ thuật đối vị trong bản nhạc đang phát trên kia là một ví dụ cho sự hấp dẫn đó.
Kỹ thuật đối vị hay counterpoint là một thứ rất khó học vào thời của Haydn. Tôi nghĩ cuộc đời có những thứ thật thú vị, ví như chuyện Haydn, khi ấy đang là ngôi sao đa năng trong một ca đoàn danh tiếng, chỉ vì một trò trẻ con là cắt bím tóc của một ca sĩ đàn anh, mà bị đuổi khỏi ca đoàn sau 9 năm sinh hoạt. Để rồi lại bỏ thêm 7 năm sau đó chú mục luyện tập counterpoint, nhờ vậy mà ta có những bản nhạc tuyệt vời để nghe.
Haydn tự hào về tài năng tới mức, có lần ông được bạn ông, Mozart, khuyên không nên ra nước ngoài sinh sống khi không rành tiếng Anh, Haydn nói: “Ngôn ngữ của tôi được hiểu khắp nơi!”. Mặc dù vậy, tại London, Haydn bị phát hiện có polyp ở mũi. BS khuyên ông nên đến phòng mạch để cắt polyp, với vốn tiếng Anh “hiểu khắp mọi nơi”, Haydn tưởng mình được mời đến... uống trà. Và theo lời ông thuật lại, sáng đó, không hiểu chuyện gì xảy ra, nên Haydn đã phải “đấm đá” để thoát khỏi mấy tay phụ tá lực lưỡng của BS phẫu thuật.
Haydn chưa bao giờ là ông hoàng của Giao hưởng hay Tứ tấu đàn dây. Nhưng ông đã cho chúng cái khung, tạo ra “định dạng” cho chúng. Mozart nói, để soạn một Tứ tấu cho đúng cách, điều đầu tiên tôi cần là nghiên cứu là tác phẩm của Haydn.
Nghe Haydn ư? Thử các món sau đây xem sao:
Symphony:
- Farewell (no. 45)
- Surprise (no. 94)
- Horn Signal (no. 31)
- Hen (no. 83)
- Oxford (no. 92)
- Giao hưởng thành Luân Đôn
- The Military (no. 100)
- Clock (no. 101)
- Drum Roll (no. 103)
- London (no. 104)
Tứ tấu đàn dây:
- Lark (op. 64, no. 5)
- Emperor (op. 76, no. 3)
- Sunrise (op. 76, no. 4)
0 comments:
Post a Comment